.
CHUC MUNG NGAY NHA GIAO VIET NAM 20-11
Đổi mới KTĐG

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Tấn Lộc (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:33' 07-06-2013
Dung lượng: 45.0 KB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Tấn Lộc (trang riêng)
Ngày gửi: 22h:33' 07-06-2013
Dung lượng: 45.0 KB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
****************
A. CƠ SỞ THỰC HIỆN :
I.CƠ SỞ THỰC TIỄN – LÝ DO
- Kiểm tra đánh giá thường xuyên (HS1) là một trong những nội dung, hình thức kiểm tra quan trọng, góp phần vào việc đánh giá tổng thể chất lượng của học sinh trong học kỳ, cả năm học.
- Nếu chỉ thực hiện hình thức kiểm tra bài cũ truyền thống, đơn điệu như trước đây từ 1 đến 2 học sinh trong một tiết học thì một mặt làm cho học sinh chủ quan, ỷ lại, ì trong học tập, nhất là các đối tượng học sinh lười học bởi lẽ chưa chắc thầy đã gọi kiểm tra trúng mình nên không học cũng được, mặt khác làm cho số học sinh khá giỏi có ý thức tích cực trong trong tập lại chán nãn không muốn học vì mình thuộc bài mà thầy không gọi từ đó sẽ không chịu khó học bài nữa.
- Vì thế để khích lệ học sinh khá giỏi, đồng thời chống tính lười học của học sinh yếu kém ta phải đổi mới công tác kiểm tra đánh giá nói chung và kiểm tra đánh giá thường xuyên (HS1) nói riêng bằng cách phối hợp nhiều hình thức, đó là :
+ Kiểm tra theo lối truyền thống từ 2 – 3 em/ tiết học (Có những yêu cầu cụ thể ).
+ Kiểm tra vở học, vở làm bài tập về nhà.
+ Kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động nhóm cho điểm nhóm (Có yêu cầu cụ thể).
+ Kiểm tra bài cũ bằng hình thức giấy và làm cả lớp.
II. CƠ SỞ KHOA HỌC :
- Dựa vào yêu cầu đổi mới công tác kiểm tra đánh giá.
- Dựa vào yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực.
- Dựa vào yêu cầu thực hiện cuộc vận động hai không.
- Dựa vào dạy học đạt mục tiêu chuẩn KTKN.
- Dựa vào tình hình thực tế, khả năng trình độ của học sinh và đặc điểm bộ môn.
B. NỘI DUNG :
I. Mục tiêu :
1. Làm cho HS thuộc bài, nắm được những nội dung cơ bản đạt chuẩn kiến thức, từ đó hiểu được kiến thức đã học.
2. HS vận dụng được những kiến thức đã học vào những trường hợp đơn giản, từ đó vận dụng được trong các bài toán kiểm tra 15’ và 45’.
3. HS ý thức được sự cần thiết phải học thuộc bài, hiểu bài, coi trọng kết quả của mình, giáo dục tính tự giác, tích cực, trung thực, khả năng tự đánh giá mình, khuyến khích các em học tập.
II. PHƯƠNG PHÁP – CÁC HÌNH THỨC THỰC HIỆN
1. HÌNH THỨC1:
Kiểm tra theo lối truyền thống từ 2 – 3 em trong 1 tiết học với những yêu cầu cụ thể như sau :
a. Mức độ thuộc : Đọc, viết được các định lý, quy tắc, công thức, định nghĩa... (3đ)
b. Mức độ hiểu : Giải thích được kiến thức, các định lý, quy tắc, công thức, định nghĩa..., cho ví dụ minh họa, suy ra... (3đ)
c. Mức độ vận dụng : Vận dụng được kiến thức vào các bài áp dụng đơn giản (2đ ) – HS khá giỏi yêu cầu cao hơn (3đ)
Đầy đủ dụng cụ học tập, vở và SGK (1đ)
Tác phong, thái độ khi được kiểm tra (1đ)
2. HÌNH THỨC 2:
Kiểm tra đột xuất vở học, vở làm bài tập về nhà 1 tổ / lần ( Giờ trống của GV ) và cho điểm
3. HÌNH THỨC 3 :
Kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động nhóm cho điểm nhóm với yêu cầu cụ thể : Học sinh yếu trong nhóm trình bày được kết quả của nhóm.
4. HÌNH THỨC 4:
Kiểm tra bài cũ đột xuất bằng hình thức giấy và làm đồng loạt cả lớp từ 1 đến 2 lần trong tuần.
- HS chuẩn bị sẵn giấy làm bài trong bị đựng kiểm tra (1/2 hoặc ¼ tờ giấy )
-GV chuẩn bị đề bài.
- Thời gian làm bài từ 4 đến 7 phút
- Phân thành 8 dãy và làm đề chẳn, lẻ
- Nội dung : Chủ yếu là kiểm tra lý thuyết, có áp dụng đơn giản.
- GV chấm bài và công bố điểm hàng tuần cho HS, phối hợp với GVCN để nhắc nhở, kiểm điểm kịp thời HS có điểm yếu kém.
Cách cộng điểm : Cuối HK cộng, chia bình quân để lấy đủ cột điểm HS1 theo quy định .
C. KẾT QUẢ :
- Sau 10 tuần thực hiện đạt được một số kết quả sau:
+ Đa số học sinh có ý thức tự giác, tích cực hơn về việc học tập .
+ Thuộc bài nhiều hơn, tập
 




















Các ý kiến mới nhất